Hoạt động khai thác đá và thi công công trình trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn làm phát sinh nhu cầu sử dụng, vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp. Đây là loại vật tư đặc biệt; sơ hở trong bảo quản, vận chuyển, sử dụng có thể gây mất an toàn, thất thoát và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Công an tỉnh Lạng Sơn khuyến cáo các cơ sở, doanh nghiệp nhận diện những hành vi dễ vi phạm, chủ động rà soát và khắc phục từ sớm.
Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới, có địa hình chủ yếu là đồi, núi, trong đó có nhiều khu vực núi đá vôi. Toàn tỉnh hiện có 45 đơn vị được cấp giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường còn hiệu lực, gồm 38 mỏ đá vôi, 5 mỏ cát, sỏi và 2 mỏ đất san lấp. Các mỏ đá vôi có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp với tổng trữ lượng khoáng sản trên 115,4 triệu m³. Khối lượng đá làm vật liệu xây dựng thông thường khai thác trong 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt trên 2,7 triệu m³, phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình trên địa bàn và một số dự án trọng điểm.
Từ đầu năm 2026 đến nay, Công an tỉnh Lạng Sơn đã tiếp nhận, cấp 1.929 giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp phục vụ khai thác khoáng sản và thi công công trình. Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thường xuyên nắm tình hình, kiểm tra định kỳ, đột xuất đối với các cơ sở có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; kết hợp kiểm tra với hướng dẫn doanh nghiệp duy trì các điều kiện bảo đảm an ninh, trật tự.
Qua kiểm tra, các cơ sở trên địa bàn cơ bản chấp hành quy định về quản lý, bảo quản và vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp. Người đứng đầu nhiều đơn vị đã quan tâm công tác bảo vệ kho, bố trí lực lượng bảo vệ và quản lý việc sử dụng vật liệu nổ theo quy định. Tuy nhiên, tại một số cơ sở, phương án bảo vệ an ninh, trật tự chưa được cập nhật kịp thời; tình huống giả định và biện pháp xử lý chưa sát thực tế; việc thực tập phương án chưa thường xuyên; hồ sơ, sổ sách còn cần bổ sung, hoàn thiện. Đây là những nội dung doanh nghiệp cần chủ động rà soát, khắc phục. Việc xác định hành vi vi phạm và xử phạt phải căn cứ vào tình tiết cụ thể của từng trường hợp.
Những hành vi dễ vi phạm và mức xử lý tương ứng
Nghị định số 275/2026/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 25/8/2026, quy định mức phạt tiền đối với cá nhân; tổ chức thực hiện cùng hành vi vi phạm bị phạt gấp hai lần.
Đối với kho vật liệu nổ công nghiệp, hành vi không có phương án bảo vệ an ninh, trật tự theo quy định; không thực hiện niêm phong, khóa cửa kho; hoặc không đủ lực lượng bảo vệ canh gác kho theo quy định đều có mức phạt từ 5 đến 10 triệu đồng đối với cá nhân, tương ứng từ 10 đến 20 triệu đồng đối với tổ chức. Các hành vi này được quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 57 Nghị định số 275/2026/NĐ-CP.
Trường hợp không thực hiện canh gác, bảo vệ khu vực bảo quản vật liệu nổ công nghiệp theo quy định, mức phạt tăng lên 10 đến 30 triệu đồng đối với cá nhân và 20 đến 60 triệu đồng đối với tổ chức, theo điểm d khoản 3 Điều 57. Doanh nghiệp cần phân biệt hành vi này với trường hợp có tổ chức canh gác nhưng không đủ lực lượng theo quy định để rà soát đúng nguy cơ tại cơ sở.
Trong khâu vận chuyển, hành vi vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp không có giấy phép vận chuyển theo quy định, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt từ 50 đến 70 triệu đồng đối với cá nhân và 100 đến 140 triệu đồng đối với tổ chức, theo khoản 6 Điều 58. Vì vậy, trước mỗi hoạt động vận chuyển, cơ sở cần kiểm tra giấy phép và bảo đảm việc vận chuyển đúng nội dung được phép.
Đặc biệt, hành vi để mất vật liệu nổ công nghiệp tại kho bị phạt từ 80 đến 100 triệu đồng đối với cá nhân, từ 160 đến 200 triệu đồng đối với tổ chức theo khoản 6 Điều 57. Người vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép, giấy chứng nhận về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp từ 6 đến 12 tháng theo điểm b khoản 7 Điều 57.
Ngoài xử phạt vi phạm hành chính, người thực hiện hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 307 Bộ luật Hình sự quy định về tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; tùy trường hợp luật định, người phạm tội có thể bị phạt tù đến 15 năm. Đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, điều luật áp dụng là Điều 305 Bộ luật Hình sự; ở khung hình phạt cao nhất, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 15 đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Những hành vi vi phạm trong bảo quản, vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp và mức xử phạt theo Nghị định số 275/2026/NĐ-CP.
Chủ động kiểm tra, khắc phục nguy cơ từ cơ sở
Công an tỉnh Lạng Sơn khuyến cáo người đứng đầu doanh nghiệp, cơ sở có hoạt động vật liệu nổ công nghiệp thường xuyên kiểm tra điều kiện bảo quản và công tác bảo vệ kho; rà soát, cập nhật phương án bảo đảm an ninh, trật tự; quản lý chặt chẽ hồ sơ xuất, nhập, tồn và phân công rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân. Việc thực tập phương án cần phù hợp với điều kiện thực tế. Khi phát hiện mất mát, nguy cơ mất an toàn hoặc dấu hiệu vi phạm, cơ sở phải kịp thời thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
Cùng với công tác kiểm tra, Công an tỉnh tiếp tục hướng dẫn cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện trực tuyến các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền, trong đó có cấp, điều chỉnh giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ. Doanh nghiệp có thể cập nhật ứng dụng VNeID, chọn mục “An ninh, trật tự” và thực hiện thủ tục theo hướng dẫn. Nộp hồ sơ trực tuyến giúp cơ sở theo dõi tiến độ giải quyết, chủ động sắp xếp hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Hướng dẫn thực hiện dịch vụ công và miễn lệ phí nộp hồ sơ trên VNeID từ ngày 16/9/2026
Thời gian tới, Công an tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở khắc phục tồn tại, duy trì điều kiện bảo đảm an ninh, trật tự; kết hợp kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định. Đối với mỗi doanh nghiệp, tự kiểm tra và khắc phục thiếu sót phải là công việc thường xuyên trong suốt quá trình quản lý, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, góp phần bảo đảm an toàn cho người lao động, cộng đồng và hoạt động sản xuất trên địa bàn./.
Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội